Từ vụ nữ đại gia báo mất 5 sổ đỏ: Mất sổ đỏ có nguy hiểm không?

Khi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) bị mất thì người dân không phải quá lo lắng, vì sổ đỏ không phải là tài sản.

Một phụ nữ nổi tiếng ở Đà Nẵng báo mất 5 sổ đỏ của 5 lô đất có giá trị lớn nằm ở vị trí đắc địa tại quận Sơn Trà (Đà Nẵng) và xin cấp lại sổ mới.

Tuy nhiên, khi chính quyền niêm yết công khai hồ sơ báo mất trên thì có một người phụ nữ xuất hiện trình báo rằng 5 sổ đỏ trên bà đang cất giữ.

Từ vấn đề trên nhiều người đặt ra thắc mắc: Bị mất sổ đỏ có nguy hiểm không? Thủ tục cấp lại sổ đỏ đã mất như thế nào?


Mất sổ đỏ có nguy hiểm không?

Khi Giấy chứng nhận bị mất thì người dân không phải quá lo lắng vì những lý do sau:

Thứ nhất, sổ đỏ không phải là tài sản.

Căn cứ khoản 1 Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015, tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tại Điều 115 Bộ luật này cũng quy định rõ quyền tài sản như sau: "Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác".

Theo đó, quyền sử dụng đất là tài sản, còn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là tài sản.

Khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai 2013 quy định về Giấy chứng nhận như sau: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất”.

Như vậy, Giấy chứng nhận chỉ là giấy tờ ghi nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hợp pháp (tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở, công trình xây dựng khác). Hay nói cách khác, nếu mất Giấy chứng nhận thì chỉ mất giấy tờ ghi nhận quyền tài sản chứ không mất tài sản.

Thứ hai, người khác không được chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp nếu không được sự đồng ý của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất

Căn cứ Bộ luật Dân sự 2015 và khoản 1 Điều 167 Luật Đất đai 2013, mặc dù người sử dụng đất không có quyền định đoạt quyền sử dụng đất nhưng được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn khi có đủ điều kiện.

Theo khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai 2013, việc chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất chỉ có hiệu lực khi được đăng ký vào sổ địa chính của cơ quan đăng ký đất đai. Mặt khác, việc chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp chỉ được thực hiện bởi chính người sử dụng đất hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật dân sự.

Như vậy, khi Giấy chứng nhận bị mất thì người đang chiếm giữ Giấy chứng nhận cũng không thể chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, nhà ở nếu không có ủy quyền của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất.

Kết luận: Vì bất kỳ lý do nào nếu Sổ đỏ bị mất thì cũng không nguy hiểm hay phải lo lắng vì Giấy chứng nhận bị mất thì quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở vẫn còn, khi bị mất thì có quyền được cấp lại và người khác cũng không thể chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp nếu không được ủy quyền.

Thủ tục cấp lại sổ đỏ đã mất như thế nào?

Căn cứ Điều 77 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, khi bị mất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp lại.

Hộ gia đình, cá nhân có Giấy chứng nhận bị mất phải khai báo với UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất về việc bị mất Giấy chứng nhận, trừ trường hợp mất do thiên tai, hỏa hoạn.

Sau khi tiếp nhận khai báo của hộ gia đình, cá nhân thì UBND xã, phường, thị trấn có trách nhiệm niêm yết thông báo mất Giấy chứng nhận tại trụ sở.

Sau 30 ngày, kể từ ngày niêm yết thông báo, hộ gia đình, cá nhân bị mất Giấy chứng nhận nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị cấp lại.

Khoản 2 Điều 10 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT quy định về hồ sơ địa chính, hồ sơ cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bao gồm:

- Đơn đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận theo Mẫu số 10/ĐK;

- Giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc đã niêm yết thông báo mất giấy trong thời gian 15 ngày đối với hộ gia đình và cá nhân; giấy tờ chứng minh đã đăng tin 03 lần trên phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương về việc mất Giấy chứng nhận đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, cá nhân nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư; trường hợp mất Giấy chứng nhận do thiên tai, hỏa hoạn phải có giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc thiên tai, hỏa hoạn đó.

Sau khi chuẩn bị xong hồ sơ, người có quyền sử dụng đất nộp tại Văn phòng đăng ký đất đai cấp xã, phường nơi cư trú.

Khai báo không đúng sự thật về việc mất sổ đỏ bị xử lý thế nào?

Nếu cá nhân khai báo không đúng sự thật về việc mất sổ đỏ, từ đó làm sổ đỏ mới, theo điều 35 nghị định số 91/2019/NĐ-CP sẽ bị xử phạt hành chính từ 4 - 10 triệu đồng. Đồng thời cơ quan có thẩm quyền sẽ thu hồi lại sổ đỏ đã được cấp đổi mới.

Liên quan đến việc báo tin giả đến cơ quan công an để từ đó có xác nhận mất sổ đỏ, có thể bị xử phạt hành chính thêm theo quy định tại điều 5 nghị định 167/2013/NĐ-CP. Ngoài ra, nếu việc báo tin giả để làm lại sổ đỏ mới, sau đó dùng để thực hiện các hành vi trái pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ, mục đích của vụ việc sẽ bị xử lý trách nhiệm đối với các hành vi sau đó.

Trong trường hợp yếu tố gian dối của người khai báo không trung thực để được cấp sổ đỏ có ảnh hưởng đến các thiệt hại của cá nhân, tổ chức khác nhau thì cần cơ quan chức năng điều tra mới rõ mức độ vi phạm pháp luật như thế nào.

Như vậy, vấn đề làm lại sổ đỏ mới trên cơ sở khai báo không trung thực tùy từng hoàn cảnh, điều kiện, thực tế của hành vi đi cùng, nếu không đến mức xử lý trách nhiệm hình sự thì chỉ bị xử phạt hành chính, nhưng nếu có những dấu hiệu cấu thành tội phạm thì còn có thể bị xử lý hình sự.

Từ vụ nữ đại gia báo mất 5 sổ đỏ: Mất sổ đỏ có nguy hiểm không? Từ vụ nữ đại gia báo mất 5 sổ đỏ: Mất sổ đỏ có nguy hiểm không? Reviewed by Tuệ Linh on 10/27/2021 04:03:00 CH Rating: 5

Không có nhận xét nào:

Được tạo bởi Blogger.