Xe đi ra, vào vòng xuyến có cần phải bật xi nhan không?

Xe đi ra vào vòng xuyến có phải bật xi nhan không? Đây là câu hỏi gây ra rất nhiều tranh luận của các tài xế. Bài viết dưới đây sẽ trả lười chính xác nhất câu hỏi này.


Theo Quy chuẩn báo hiệu đường bộ QCVN 41:2019/BGTVT, để báo cho các loại xe (thô sơ và cơ giới) phải chạy vòng theo đảo an toàn ở nơi đường giao nhau phải đặt biển số R.303 "Nơi giao nhau chạy theo vòng xuyến".

Biển có hiệu lực bắt buộc các loại xe muốn chuyển hướng phải chạy vòng theo đảo an toàn theo hướng mũi tên.

Theo cách hiểu thông thường, vòng xuyến là một vòng tròn nằm ở giữa các ngả đường giao nhau để làm mốc cho xe cộ lưu thông.

Khi đi vào vòng xuyến, người lái xe phải cho xe chạy theo chiều mũi tên, cho đến khi tách khỏi vòng tròn rẽ sang đường nhánh nào đó.

Vậy, theo quy định của pháp luật về giao thông thì xe đi ra vào vòng xuyến có cần bật xi nhan không?

Biển số R.303 "Nơi giao nhau chạy theo vòng xuyến".

Về việc bật xi nhan (bật báo hiệu bằng đèn), Luật Giao thông đường bộ 2008 chỉ quy định bắt buộc trong những trường hợp sau:

Thứ nhất, chuyển làn đường (Điều 13).

Cụ thể, trên đường có nhiều làn đường cho xe đi cùng chiều được phân biệt bằng vạch kẻ phân làn đường, người điều khiển phương tiện phải cho xe đi trong một làn đường và chỉ được chuyển làn đường ở những nơi cho phép; khi chuyển làn đường phải có tín hiệu báo trước và phải bảo đảm an toàn.

Trên đường một chiều có vạch kẻ phân làn đường, xe thô sơ phải đi trên làn đường bên phải trong cùng, xe cơ giới, xe máy chuyên dùng đi trên làn đường bên trái.

Phương tiện tham gia giao thông đường bộ di chuyển với tốc độ thấp hơn phải đi về bên phải.

Thứ hai, vượt xe (Điều 14).

Xe xin vượt phải có báo hiệu bằng đèn hoặc còi; trong đô thị và khu đông dân cư từ 22 giờ đến 5 giờ chỉ được báo hiệu xin vượt bằng đèn.

Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải.

Khi có xe xin vượt, nếu đủ điều kiện an toàn, người điều khiển phương tiện phía trước phải giảm tốc độ, đi sát về bên phải của phần đường xe chạy cho đến khi xe sau đã vượt qua, không được gây trở ngại đối với xe xin vượt.

Khi vượt, các xe phải vượt về bên trái, trừ các trường hợp sau đây thì được phép vượt bên phải:

Khi xe phía trước có tín hiệu rẽ trái hoặc đang rẽ trái; Khi xe điện đang chạy giữa đường; Khi xe chuyên dùng đang làm việc trên đường mà không thể vượt bên trái được.

Không được vượt xe khi có một trong các trường hợp sau đây: Không bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này (không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải); Trên cầu hẹp có một làn xe; Đường vòng, đầu dốc và các vị trí có tầm nhìn hạn chế; Nơi đường giao nhau, đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; Khi điều kiện thời tiết hoặc đường không bảo đảm an toàn cho việc vượt; Xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ.

Thứ ba, chuyển hướng xe (Điều 15).

Khi muốn chuyển hướng, người điều khiển phương tiện phải giảm tốc độ và có tín hiệu báo hướng rẽ.

Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác.

Trong khu dân cư, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng chỉ được quay đầu xe ở nơi đường giao nhau và nơi có biển báo cho phép quay đầu xe.

Không được quay đầu xe ở phần đường dành cho người đi bộ qua đường, trên cầu, đầu cầu, gầm cầu vượt, ngầm, trong hầm đường bộ, đường cao tốc, tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt, đường hẹp, đường dốc, đoạn đường cong tầm nhìn bị che khuất.

Thứ tư, dừng xe, đỗ xe (Điều 18, 19).

Người điều khiển phương tiện khi dừng xe, đỗ xe trên đường bộ phải thực hiện quy định sau đây: Có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết; Cho xe dừng, đỗ ở nơi có lề đường rộng hoặc khu đất ở bên ngoài phần đường xe chạy; trường hợp lề đường hẹp hoặc không có lề đường thì phải cho xe dừng, đỗ sát mép đường phía bên phải theo chiều đi của mình; Trường hợp trên đường đã xây dựng nơi dừng xe, đỗ xe hoặc quy định các điểm dừng xe, đỗ xe thì phải dừng, đỗ xe tại các vị trí đó; Sau khi đỗ xe, chỉ được rời khỏi xe khi đã thực hiện các biện pháp an toàn; nếu xe đỗ chiếm một phần đường xe chạy phải đặt ngay biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết; Không mở cửa xe, để cửa xe mở hoặc bước xuống xe khi chưa bảo đảm điều kiện an toàn; Khi dừng xe, không được tắt máy và không được rời khỏi vị trí lái; Xe đỗ trên đoạn đường dốc phải được chèn bánh.

Người điều khiển phương tiện không được dừng xe, đỗ xe tại các vị trí sau đây: Bên trái đường một chiều; Trên các đoạn đường cong và gần đầu dốc tầm nhìn bị che khuất; Trên cầu, gầm cầu vượt; Song song với một xe khác đang dừng, đỗ; Trên phần đường dành cho người đi bộ qua đường; Nơi đường giao nhau và trong phạm vi 5 mét tính từ mép đường giao nhau; Nơi dừng của xe buýt; Trước cổng và trong phạm vi 5 mét hai bên cổng trụ sở cơ quan, tổ chức; Tại nơi phần đường có bề rộng chỉ đủ cho một làn xe; Trong phạm vi an toàn của đường sắt; Che khuất biển báo hiệu đường bộ.

Đối với người điều khiển phương tiện khi dừng xe, đỗ xe trên đường phố ngoài việc phải tuân thủ quy địn trên còn phải tuân các quy định sau đây:

Phải cho xe dừng, đỗ sát theo lề đường, hè phố phía bên phải theo chiều đi của mình; bánh xe gần nhất không được cách xa lề đường, hè phố quá 0,25 mét và không gây cản trở, nguy hiểm cho giao thông. Trường hợp đường phố hẹp, phải dừng xe, đỗ xe ở vị trí cách xe ô tô đang đỗ bên kia đường tối thiểu 20 mét.

Không được dừng xe, đỗ xe trên đường xe điện, trên miệng cống thoát nước, miệng hầm của đường điện thoại, điện cao thế, chỗ dành riêng cho xe chữa cháy lấy nước. Không được để phương tiện giao thông ở lòng đường, hè phố trái quy định.

Theo những quy định này, việc có phải xi nhan khi ra vào vòng xuyến không không được nhắc đến. Nghị định 100/2019 về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực giao thông đường bộ cũng chưa có quy định về xử phạt lỗi không xi nhan khi ra vào vòng xuyến.

Như vậy, có thể thấy việc xi nhan khi ra vào vòng xuyến không phải trường hợp bắt buộc.

Tuy nhiên, Cục Cảnh sát giao thông Bộ Công an khuyến nghị trong quá trình tham gia giao thông, có 01 số trường hợp nên bật đèn xi nhan để đảm bảo an toàn cho bản thân và giúp việc lưu thông trên đường thuận tiện hơn. Một trong những trường hợp đó là việc bật xi nhan khi đi qua vòng xuyến.

Về cơ bản, việc bật xi nhan khi đi qua vòng xuyến thực hiện theo nguyên tắc “vào trái, ra phải” nghĩa là khi vào vòng xuyến thì xi nhan trái, khi ra khỏi thì xi nhan phải.

Ngoài ra, người điều khiển phương tiện giao thông cua theo đường cong (không phải ngã rẽ, chuyển hướng, chuyển làn) thì vẫn xem là đang đi trên một đoạn đường thẳng, theo một hướng cũng nên bật đèn tín hiệu báo rẽ. Trong trường hợp thấy an toàn, không hề gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông phía sau hoặc chiều ngược lại, thì không bắt buộc bật đèn tín hiệu…

Lỗi không đi theo vòng xuyến phạt bao nhiêu tiền?

Mức phạt đối với người điều khiển xe máy vi phạm theo Nghị định 100/2019/NĐ-CP như sau:

Phạt tiền từ 100.000 - 200.000 đồng, nếu gây tai nạn giao thông thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 2 tháng đến 4 tháng (điểm a khoản 1, điểm c khoản 10 Điều 6).

Đối với ô tô: Phạt tiền từ 200.000 - 400.000 đồng. Nếu gây tai nạn giao thông thì còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 2 tháng đến 4 tháng;

Xe đi ra, vào vòng xuyến có cần phải bật xi nhan không? Xe đi ra, vào vòng xuyến có cần phải bật xi nhan không? Reviewed by Đời sống Pháp lý on 7/12/2021 02:40:00 CH Rating: 5

Không có nhận xét nào:

Được tạo bởi Blogger.