Vào quán gọi "tay vịn" có vi phạm pháp luật không?

Không ít quán cà phê, karaoke cung cấp dịch vụ “tay vịn” để câu khách là rất phổ biến. Vậy khi vào quán gọi "tay vịn" có vi phạm pháp luật không? 


"Tay vịn" có bị coi là mua bán dâm không?

Theo Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm thì mua dâm, bán dâm được giải thích như sau:

Mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người bán dâm để được giao cấu.

Bán dâm là hành vi giao cấu của một người với người khác để được trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác.

Như vậy, bản chất của mua dâm, bán dâm là hành vi giao cấu phát sinh có yếu tố trả, nhận tiền hoặc lợi ích vật chất khác.

Do đó, dịch vụ “tay vịn” chỉ bị coi là mua, bán dâm nếu phát sinh hành vi giao cấu có trao đổi về tiền hoặc lợi ích vật chất khác. Chỉ cần chứng minh quan hệ trên không có yếu tố trả, nhận tiền hoặc lợi ích vật chất khác thì không bị coi là mua, bán dâm.

Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm của hành vi mà người mua dâm, bán dâm sẽ bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Mức xử phạt với hành vi mua dâm theo Điều 22 Nghị định 167/2013/NĐ-CP:

- Mua dâm: Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1 triệu đồng.

- Mua dâm nhiều người cùng một lúc: Phạt tiền từ 2 đến 5 triệu đồng;

- Lôi kéo hoặc ép buộc người khác cùng mua dâm: Phạt tiền từ 5 đến 10 triệu đồng.

Đối với hành vi bán dâm:

- Bán dâm: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đến 300.000 đồng.

- Bán dâm cho nhiều người cùng một lúc: 300.000 đến 500.000 đồng.

Về trách nhiệm hình sự, người nào đủ 18 tuổi trở lên mua dâm người dưới 18 tuổi thì bị phạt tù từ 1 đến 5 năm về Tội mua dâm người dưới 18 tuổi theo Điều 329 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017. Ngoài ra, người phạm tội còn bị phạt tiền từ 10 đến 50 triệu đồng.

Dịch vụ "tay vịn" có bị phạt không?

Theo quy định tại Điều 32 Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng ban hành kèm theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 6/11/2009 nêu trên. Theo đó, khi hoạt động kinh doanh karaoke, chủ cơ sở kinh doanh phải tuân theo các quy định sau đây:

Thứ nhất, đảm bảo ánh sáng trong phòng trên 10 Lux tương đương 1 bóng đèn sợi đốt 40W cho 20m2.

Thứ hai, đảm bảo âm thanh vang ra ngoài phòng karaoke không vượt quá quy định của Nhà nước về tiêu chuẩn mức ồn tối đa cho phép.

Thứ ba, chỉ được sử dụng bài hát đã được phép phổ biến; băng, đĩa đã dán nhãn kiểm soát theo quy định.

Thứ tư, không được bán rượu hoặc để cho khách uống rượu trong phòng karaoke.

Thứ năm, đảm bảo các điều kiện về an ninh, trật tự quy định tại Nghị định số 72/2009/NĐ-CP ngày 3/9/2009 của Chính phủ.

Thứ sáu, mỗi phòng karaoke chỉ được sử dụng một nhân viên phục vụ từ 18 tuổi trở lên; nếu nhân viên phục vụ là người làm thuê thì phải có hợp đồng lao động và được quản lý theo quy định của pháp luật về hợp đồng lao động.

Thứ bảy, không được hoạt động sau 12h đêm đến 8h sáng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 37 Quy chế này.

Cuối cùng, các điểm karaoke hoạt động ở vùng dân cư không tập trung không phải thực hiện quy định về âm thanh tại khoản 2 nhưng phải thực hiện quy định tại các khoản 1, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều này.

Trên cơ sở đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật về quy hoạch được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; về địa điểm kinh doanh, phòng hát, âm thanh, ánh sáng, tiếng ồn và có cam kết về trật tự an ninh và được sự đồng ý bằng văn bản của các hộ dân liền kề, người đề nghị đăng ký kinh doanh cơ sở karaoke gửi hồ sơ để xin giấy phép kinh doanh lên Sở Văn hóa, thể thao và du lịch hoặc cơ quan cấp huyện được phân công cấp giấy phép đăng ký kinh doanh.

Như vậy thì theo quy định trên phòng kinh doanh karaoke không được bán rượu hoặc để cho khách uống rượu trong phòng, và hơn nữa mỗi phòng karaoke chỉ được sử dụng một nhân viên phục vụ từ 18 tuổi trở lên; nếu nhân viên phục vụ là người làm thuê thì phải có hợp đồng lao động và được quản lý theo quy định của pháp luật về hợp đồng lao động, phòng kinh doanh dịch vụ karaoke sẽ không được phép kinh doanh thêm dịch vụ tay vị và rót bia, hơn nữa cũng không được phép có cả nhóm nhân viên phục vụ mà không phải là nhân viên của cơ sở kinh doanh.

Nếu cố tính kinh doanh dịch vụ tay vịn thì sẽ bị xử phạt theo quy định tại khoản 1a Điều 19 và khoản 2a Điều 17 Nghị dịnh 158/2013 Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa thể thao du lịch.

Phạt tiền từ 3 triệu đồng đến 5 triệu đồng đối với hành vi sử dụng nhân viên phục vụ trong một phòng karaoke vượt quá số lượng theo quy định.

Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng đối với hành vi kinh doanh hoạt động vũ trường, karaoke không đúng nội dung, không đúng phạm vi quy định trong giấy phép.

Việc các cá nhân chuyên cung cấp dịch vụ tay vịn này vì không có bất cứ hợp đồng nào nên khi cơ quan công an kiểm tra thì chỉ có các nhân viên và chủ cơ sở kinh doanh và khi chủ cơ sở kinh doanh không đúng nội dung trong giấy phép kinh doanh, thuê người lao động nhưng không có hợp đồng thì trực tiếp chủ cơ sở kinh doanh sẽ phải chịu trách nhiệm. Tuy nhiên nếu những người cung cấp dịch vụ tay vịn này vi phạm quy định của Luật lao động thì đương nhiên họ cũng sẽ bị xử phạt theo quy định của bộ luật Lao động

Vào quán gọi "tay vịn" có vi phạm pháp luật không? Vào quán gọi "tay vịn" có vi phạm pháp luật không? Reviewed by Đời sống Pháp lý on 1/28/2021 02:54:00 CH Rating: 5

Không có nhận xét nào:

Được tạo bởi Blogger.