Tội lừa dối khách hàng được hiểu thế nào? khung hình phạt bao nhiêu?

Tội phạm này gần giống với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người phạm tội cũng dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tiền hoặc tài sản của người khác.


Tại cuộc họp báo của Bộ Công an chiều 25/6, Đại tá Nguyễn Thanh Tùng, Phó Giám đốc Công an TP Hà Nội cung cấp một số thông tin về vụ án lừa dối khách hàng liên quan đến ông Lê Thanh Thản, Chủ tịch tập đoàn Mường Thanh.

Theo ông Tùng, đến nay Cơ quan Cảnh sát điều tra đã khởi tố tổng cộng bảy bị can. Trong số này, ông Thản bị khởi tố về tội lừa dối khách hàng, sáu bị can còn lại bị khởi tố về tội thiếu tinh thần trách nhiệm.

Lãnh đạo Công an TP Hà Nội cho biết đang tích cực điều tra và sớm có kết luận, đề nghị truy tố các bị can trước pháp luật.



Hành vi lừa dối khách hàng theo quy định của pháp luật sẽ bị xử lý thế nào?


Tội danh này đã được quy định trong các BLHS trước đó: Điều 170 Bộ luật hình sự năm 1985, điều 162 BLHS 1999 và hiện nay là điều 198 BLHS 2015. 

Tuy nhiên, thực tế cho thấy hầu như hành vi lừa dối khách hàng rất ít khi bị truy cứu trách nhiệm hình sự, do không nắm được số liệu toàn quốc nhưng việc khởi tố bị can tội "lừa dối khách hàng" là rất ít, thậm chí rất hiếm. Trong khi đó, theo quy định của tội lừa dối khách hàng trong BLHS thì hành vi này diễn ra khá phổ biến.

Lừa dối khách hàng là hành vi gian dối trong việc cân, đong, đo, đếm, tính gian, đánh tráo loại hàng hoặc dùng thủ đoạn gian dối khác gây thiệt hại nghiêm trọng cho khách hàng khi thực hiện hợp đồng mua, bán.


Tội phạm này gần giống với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người phạm tội cũng dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tiền hoặc tài sản của người khác.

Tuy nhiên, tội lừa dối khách hàng, hành vi gian dối chỉ trong phạm vi mua bán đối với khách hàng và cũng chỉ trong việc cân, đong, đo, đếm, tính gian, đánh tráo loại hàng hoặc dùng thủ đoạn gian dối khác gây thiệt hại nghiêm trọng cho khách hàng. Chỉ có khách hàng mới là người bị thiệt hại, đây là dấu hiệu để phân biệt tội lừa dối khách hàng với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Người phạm tội này tuy không phải là chủ thể đặc biệt nhưng cũng không phải ai cũng có thể trở thành chủ thể của tội phạm này, mà chỉ những người tham gia vào quá trình mua bán (thường là người bán) mới có thể trở thành chủ thể của tội phạm này.

Nếu chưa gây thiệt hại nghiêm trọng cho khách hàng, thì người phạm tội phải là người đã bị xử phạt hành chính về hành vi lừa dối khách hàng hoặc đã bị kết án về tội lừa dối khách hàng, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm mới bị coi là phạm tội lừa dối khách hàng.


Để thực hiện thủ đoạn gian dối, người phạm tội có thể thực hiện một trong các hành vi như: Cân, đong, đo, đếm, tính gian, đánh tráo loại hàng hoặc có những hành vi khác lừa dối khách hàng.

Cân, đong, đo, đếm, tính gian, được hiểu là cân đong đo đếm tính toán khôrg chính xác, không đúng (ít thì tính nhiều hoặc ngược lại) vối số lượng, trọng lượng, khối lượng, kích thước thực tế của từng loại hàng trong việc mua bán làm thiệt hại nghiêm trọng cho khách hàng.

Đánh tráo hàng, được hiểu là việc khi giao hàng đã thực hiện không đúng về chất lượng, chủng loại theo thỏa thuận (ví dụ: đổi mặt hàng này lấy mặt hàng tương tự khác nhưng kém chất lượng hơn, giá thấp hơn so với loại hàng đã thỏa thuận) làm thiệt hại nghiêm trọng cho khách hàng.

Tuy nhiên, để bảo đảm không lọt tội, luật có quy định có tính chất mở “hoặc dùng thủ đoạn gian dối khác”, nhưng thủ đoạn bao giờ cũng được thể hiện bằng một hành vi cụ thể. Như làm cho khách hàng bị nhầm lẫn tưởng là mình đã nhận đúng, mua đúng loại hàng với chất lượng như thỏa thuận ban đầu (như giả vờ ghi sai số lượng, giá cả, chủng loại hàng trong hợp đồng nếu bị phát hiện thì cho là do sơ xuất…).


Về hậu quả của hành vi lừa dối khách hàng là những thiệt hại vật chất và phi vật chất cho xã hội như: tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người, những thiệt hại về tài sản cho xã hội và những thiệt hại khác về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội… Hậu quả trực tiếp của hành vi lừa dối khách hàng là gây thiệt hại vật chất cho khách hàng, làm cho khách hàng mất di một phần số lượng hàng hoá hoặc hàng hoá không bảo đảm chất lượng.

Đối với tội lừa dối khách hàng, hậu quả nghiêm trọng là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Nếu chưa gây hậu quả nghiêm trọng thì người phạm tội phải là người người đã bị xử phạt hành chính về hành vi lừa dối khách hàng hoặc đã bị kết án về tội lừa dối khách hàng, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm mới bị coi là phạm tội lừa dối khách hàng.

Về mức hình phạt của tội danh lừa dối khách hàng


Thứ nhất, được áp dụng đối với trường hợp phạm tội có đủ các dấu hiệu cơ bản nêu trên. Phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm đối với các trường hợp đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Thu lợi bất chính từ 5 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng.

Bị phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 500 triệu đồng hoặc phạt tù từ 1 năm đến 5 năm nếu hành vi này có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, dùng thủ đoạn xảo quyệt hoặc thu lợi bất chính 50 triệu đồng trở lên.

Ngoài việc phải chịu một trong các hình phạt chính nêu trên, tùy từng trường hợp cụ thể người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm.
Tội lừa dối khách hàng được hiểu thế nào? khung hình phạt bao nhiêu? Tội lừa dối khách hàng được hiểu thế nào? khung hình phạt bao nhiêu? Reviewed by Đời sống Pháp lý on tháng 6 30, 2020 Rating: 5

Không có nhận xét nào:

Được tạo bởi Blogger.