Hợp đồng hôn nhân được hiểu như thế nào, có giá trị pháp lý không?

Nếu xảy ra tranh chấp tài sản giữa hai vợ chồng sau khi ly hôn thì hợp đồng tiền hôn nhân có giá trị như quyền nhân thân của vợ, chồng không?

"Về nhà đi con" đang là phim truyền hình hot nhất mạng xã hội ở thời điểm hiện tại. Nhân vật Anh Thư và người chồng bất đắc dĩ (Vũ) đang nhiệt tình đóng trọn vai trong bản hợp đồng hôn nhân trị giá bạc tỉ mà không biết kết cục của mình sẽ là hạnh phúc hay đắng cay.

"Hợp đồng hôn nhân" tiền tỷ của 2 nhân vật Vũ - Thư trong phim "Về nhà đi con"

Trong ba chị em, Thư (Bảo Thanh) là người lúc nào cũng tỏ ra vui vẻ, lạc quan, khéo mồm khéo miệng. Bố Sơn từng bảo cứ nghĩ cuộc đời Thư sẽ sung sướng, nào ngờ cũng không kém phần trắc trở.

Trong hợp đồng, Vũ yêu cầu Thư trước mặt bố mẹ, bạn bè, người quen sẽ thể hiện như một cặp vợ chồng mới cưới hạnh phúc. Làm được điều này, Vũ sẽ trả cho Thư số tiền 3 tỷ đồng.

Vậy, loại hợp đồng này được hình thành và dựa trên cơ sở pháp lý nào? Nó có được pháp luật thừa nhận và trái với Luật Hôn nhân và Gia đình không?

Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

Trong khi đó, hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể nào về vấn đề hợp đồng hôn nhân ngoài thỏa thuận về chế độ tài sản trước, trong và sau thời kỳ hôn nhân.

Điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định, trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn.

Theo đó, chế độ tài sản giữa vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng, các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản giữa vợ và chồng…

Chế độ tài sản thỏa thuận là tập hợp các quy tắc do chính vợ, chồng xây dựng lên một cách hệ thống trên cơ sở là sự cho phép của pháp luật để thay thế cho chế độ tài sản thỏa thuận luật định nhằm điều chỉnh quan hệ tài sản của vợ chồng. Các quy định về chế độ tài sản thỏa thuận của vợ chồng hiện nay khá khiêm tốn, chỉ gói gọn trong các Điều 47, 48, 49, 50 và 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Ngoài ra, chế độ tài sản này cũng được hướng dẫn bởi 4 điều (Điều 15, 16, 17, 18) của Nghị định 126/2014/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 31/12/2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và một số hướng dẫn cụ thể trong Thông tư liên tịch số 01/TTLT- TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Các quy định này đề cập đến các khía cạnh của chế độ tài sản thỏa thuận (như: việc xác lập, sửa đổi, tuyên bố vô hiệu và chấm dứt chế độ tài sản theo thỏa thuận).

Như vậy, ngoài hợp đồng hay còn gọi là văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng thì những thỏa thuận khác đều không được pháp luật quy định.

Đặc biệt những hợp đồng hôn nhân vì mục đích trục lợi, hợp đồng lập ra để kết hôn giả là những hợp đồng vi phạm pháp luật.

Việc xử lý kết hôn giả tạo được quy định tại Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và Điều 4 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP.

Theo đó, để hủy kết hôn trái pháp luật thì Tòa án căn cứ vào yêu cầu của vợ, chồng, điều kiện kết hôn, điều kiện công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp… để quyết định.

Việc kết hôn giả tạo không chỉ không được pháp luật công nhận mà thậm chí nếu mục đích của việc kết hôn này không nhằm để xây dựng gia đình, vì mục đích trục lợi thì có thể bị phạt hành chính.

Theo đó, nếu người nào lợi dụng việc kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh; nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc thực hiện các mục đích trục lợi khác thì có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng theo quy định tại Điều 28 Nghị định 110/2013/NĐ-CP.

Như vậy, nếu hợp đồng hôn nhân thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng thì hoàn toàn được pháp luật Việt Nam công nhận nếu đáp ứng đủ điều kiện theo quy định. Nhưng nếu không vì mục đích xây dựng gia đình mà chỉ nhằm kết hôn giả tạo thì sẽ không được pháp luật công nhận.
Hợp đồng hôn nhân được hiểu như thế nào, có giá trị pháp lý không? Hợp đồng hôn nhân được hiểu như thế nào, có giá trị pháp lý không? Reviewed by Đời sống Pháp lý on tháng 7 23, 2019 Rating: 5

Không có nhận xét nào:

Được tạo bởi Blogger.